Với tôi ánh sáng không bao giờ tắt (kỳ 1)

“Với tôi, ánh sáng không bao giờ tắt”
12:45, 16/04/2008


Việt Đang “biểu diễn” cách sử dụng cây gậy vạn năng.

Vào một ngày đầu tháng 3, tòa soạn Chuyên đề An ninh thế giới đón nhận một sinh viên của lớp báo chí K48 thuộc Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đến thực tập. Sẽ chẳng có gì đáng nói nếu nhưNguyễn Huy Việt, anh nhà báo tương lai này không bị khiếm thị. Và đề tài đầu tiên mà Ban tiên tập giao cho Việt là: Hãy viết lại chính cuộc đời mình. Và đây là bài của Việt. Xin giới thiệu với bạn đọc.

Khi hoàng hôn tắt

Tôi sinh ra trong vòng tay yêu thương của bố mẹ. Những năm đầu tuổi thơ tôi là  những ngày tháng thật đẹp. Làng tôi nằm giữa một vùng quê nghèo của tỉnh Hà Tây, ôm ấp bởi dòng sông Nhuệ thơ mộng. Ngày ấy, nhà tôi rất nghèo. Mẹ phải làm việc quần quật cả ngày ngoài đồng từ sáng tới tối để nuôi hai chị em tôi. In đậm trong tâm trí tôi là những ngày tháng lếch thếch theo các anh chị và bạn bè cùng lứa trong làng đi chơi với đủ trò nghịch ngợm con trẻ.

Và, tôi sẽ mãi hồn nhiên như thế nếu không có cái ngày định mệnh ấy. Năm lên chín tuổi, tôi không may bị một tai nạn bất ngờ. Vụ tai nạn ấy đã vĩnh viễn cướp đi đôi mắt – nguồn ánh sáng, cửa sổ tâm hồn tôi. Không thể diễn tả hết nỗi đau đớn mà những người thân của tôi đã phải trải qua, đặc biệt là mẹ. Mẹ khóc thật nhiều và hao gầy hẳn đi. Còn bố, tôi không thấy bố khóc lần nào nhưng từ ngày ấy tôi hay thấy bố ngồi trầm ngâm một mình.

Còn lúc ấy choán ngợp trong tôi là một nỗi sợ hãi vô cùng bởi xung quanh bao trùm một bóng đêm mù mịt. Đối với người lớn, bóng đêm nhiều khi còn làm họ sợ nữa là một đứa trẻ như tôi. Tôi còn quá nhỏ để nghĩ được nhiều về tương lai. Tôi không hề biết rằng cuộc đời mình từ đây sẽ bước sang một trang khác đầy gian nan, thử thách. Đó là cuộc sống của một  người mù.

Đúng vậy, từ đó cuộc sống của tôi thay đổi hẳn. Từ một đứa trẻ nhanh nhẹn, tinh nghịch thì nay tôi gần như ngồi lì một chỗ, cả ngày chỉ loanh quanh trên nhà, dưới bếp. Có lúc buồn quá, tôi mon men ra cổng định đến nhà mấy đứa bạn chơi nhưng tôi đã quay lại không dám đi nữa. Tôi sợ! Một nỗi sợ vô hình cứ ám ảnh tôi. Ngoài đường kia có rất nhiều hố, cống, rãnh và còn nhiều mối nguy hiểm khác. Nhưng điều làm tôi sợ nhất đó là lời bàn tán của bọn trẻ mỗi khi nhìn thấy tôi. Thôi thì ở nhà vậy.

Suốt ngày, tôi lầm lũi một mình chẳng làm được gì. Ăn cơm phải có người gắp, uống nước phải có người rót, đi vệ sinh cũng phải có người đưa đi. Trong suốt mấy tháng trời ấy không khí gia đình tôi lúc nào cũng trầm lặng thật đáng sợ. Nhiều khi nghe tiếng thạch thùng kêu tôi cũng giật mình. Mẹ tôi vẫn khóc rất nhiều đặc biệt là những lúc tôi đâm vào đâu hay bị vấp ngã. Tuy còn nhỏ nhưng tôi vẫn cảm nhận được trái tim mẹ đang quặn thắt vì thương con. Tôi thương bố mẹ vô cùng.

Nguyễn Huy Việt với Ban biên tập chuyên đề ANTG.

Gần 2 năm sau, không khí gia đình tôi mới trở lại bình thường. Bằng sự nỗ lực của bản thân cùng sự giúp đỡ của gia đình, tôi đã quen dần với cách sinh hoạt trong bóng tối. Tôi đã tự phục vụ được mình, bên cạnh đó còn giúp bố mẹ làm một số việc vặt trong nhà như: rửa ấm chén, quét nhà, xay ngô, băm rau, thái chuối cho lợn…

Với những đứa trẻ bình thường khác thì điều đó chẳng có gì đáng nói nhưng với tôi lại rất ý nghĩa. Điều đó làm cho bố mẹ tôi vui, còn tôi bớt mặc cảm, tự ti. Tôi không còn thấy mình là người thừa, là gánh nặng của gia đình nữa.

Tôi mơ ước được cắp sách tới trường như bao bạn bè đồng trang lứa. Trong suy nghĩ non nớt của tôi luôn hiện ra câu hỏi: Tại sao tôi không được đi học? Mỗi buổi sáng, khi nghe tiếng trẻ con trong xóm í ới gọi nhau tới trường là tôi chỉ muốn chạy ào ra mà nói rằng: cho tớ đi học với.

Nhưng rồi chợt nhận ra hoàn cảnh của mình, tôi oà khóc. Một nỗi tủi thân đè nặng lên lồng ngực bé nhỏ của tôi. Bố mẹ tôi cũng biết những phút giây ấy. Mặc dù rất thương con nhưng cũng không có cách nào giúp tôi được.

Ngọn lửa trong đêm

Hoàn cảnh nghiệt ngã đã không đánh gục được ý chí cùng những khao khát cháy bỏng  trong tôi. Tháng 9/1991 đã trở thành một dấu mốc quan trọng của cuộc đời tôi.  Ngày đó, một người họ hàng đã giới thiệu cho bố mẹ tôi biết ở Hà Nội có Trường Nguyễn Đình Chiểu dành cho trẻ khiếm thị. Không thể diễn tả hết nỗi vui sướng tột cùng của tôi.

Cả ngày hôm ấy, tôi cứ lăng xăng trên nhà, dưới bếp, ra vườn và luôn mồm hát. Bố mẹ tôi cũng vui mừng không kém. Ngay lập tức, bố mẹ tôi đến Trường Nguyễn Đình Chiểu xin cho tôi được vào học. Bao náo nức, hân hoan cho ngày nhập học. Thế là, khát khao cháy bỏng của tôi bấy lâu đã được thực hiện: tôi lại được đi học.

Ban đầu mọi thứ đối với tôi đều lạ lẫm. Đó là lần đầu được các thầy cô đưa cho xem tờ giấy viết bằng chữ nổi. Tôi thấy buồn cười vì chữ gì mà lấm tấm gai như trứng tằm. Tất cả bảng, bút, giấy để viết chữ nổi đều khác với tưởng tượng của tôi. Tôi tưởng chữ nổi là những con chữ bình thường được làm nổi hẳn lên mặt giấy. Nhưng không phải thế, chữ nổi mà chúng tôi học là sự sắp xếp so le vị trí của các chấm nổi trong ô hình chữ nhật.

Nhờ có chữ nổi mà các học sinh khiếm thị như chúng tôi đã theo học được cùng với các bạn bình thường khác trong lớp. Được sự tận tình dạy bảo của các thầy cô cùng sự giúp đỡ của các bạn trong phòng mà tôi nhanh chóng sử dụng được chữ nổi.

Ngoài thời gian học văn hóa, nhà trường còn tổ chức các lớp học về âm nhạc, xoa bóp bấm huyệt cho chúng tôi. Mong muốn của nhà trường là sau khi tốt nghiệp, ai có điều kiện thì học lên cao hơn nữa còn không thì làm nghề đã học để tự lập cuộc sống giảm bớt sự lệ thuộc vào gia đình.

Đến hẹn lại lên, hàng năm cứ mỗi dịp Ngày Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11, chúng tôi lại tụ họp về mái trường Nguyễn Đình Chiểu thân thương. Trước hết là để chúc mừng các thầy cô giáo sau đó là cùng nhau ôn lại những kỷ niệm buồn vui đáng nhớ của tuổi học trò. Mười hai năm học đâu phải là ngắn.

Trong tất cả những kỷ niệm ấy, có một người thầy đã để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi, đó là thầy Phạm Đình Thắng. Chẳng phải riêng tôi mà bất kỳ học sinh nào đã ở khu nội trú của trường đều có cảm nhận chung về thầy như vậy. Trước đây, thầy từng dạy ở một trường cấp III – Lạng Sơn.

Năm 1987, khi thấy mắt của mình có hiện tượng kém dần, thầy đã xin chuyển về Hà Nội vào làm giáo viên phụ trách khu nội trú của trường. Hàng ngày, sau giờ học văn hóa trên lớp chúng tôi lại trở về khu nội trú và được thầy chăm lo. Thầy đã tìm mọi cách tạo điều kiện ăn, ở, học cho chúng tôi. Không chỉ thế, thầy còn an ủi, động viên chúng tôi mỗi lúc gặp khó khăn.

Để tạo điều kiện cho các em khiếm thị có thể hòa nhập tốt hơn vào cuộc sống, thầy cùng nhà trường đã mời các thầy cô giáo ở Nhạc viện Hà Nội, Trường Y học Tuệ Tĩnh về dạy chúng tôi âm nhạc, xoa bóp bấm huyệt. Nhờ thế mà từ những năm 1991 – 1992, nhà trường đã có cả một ban nhạc nhẹ – nhạc dân tộc đi biểu diễn khắp ba miền Bắc – Trung – Nam, thậm chí còn được mời sang cả Pháp để biểu diễn.

Chính vì vậy, theo tôi được biết hàng năm những học sinh khiếm thị đã ra trường đều tìm được công việc tốt như làm cán bộ của các tổ chức người khiếm thị, Hội người mù, đi chơi nhạc, làm xoa bóp bấm huyệt… góp phần tự đảm bảo cuộc sống cho mình đồng thời có thể chăm lo cho gia đình. Trong số đó hầu hết đã lập gia đình và có cuộc sống hạnh phúc. Nhà trường đã giúp chúng tôi trở thành những người có ích cho xã hội, thực hiện đúng phương châm: “Tàn nhưng không phế”.

Cũng chính tại đây, do được học cùng với các bạn bình thường khác nên những người khiếm thị như tôi không còn cảm giác mặc cảm, tự ti mà luôn sống trong tình cảm bạn bè chan hòa. Đặc biệt là chúng tôi được giáo dục trong vòng tay yêu thương hết mực của các thầy cô giáo.

12 năm học rồi cũng trôi qua thật nhanh. Thấm thoắt tôi đã chuẩn bị thi tốt nghiệp lớp 12. Lúc này, một mặt tôi tập trung vào ôn thi, mặt khác tôi luôn trăn trở về một ý nghĩ: Tôi sẽ học tiếp cái gì sau khi tốt nghiệp? Liệu có trường đại học nào tổ chức thi và nhận những học sinh khiếm thị như tôi? Bởi tôi vẫn muốn học nữa. Trong bao năm qua, khát khao được học trong tôi chưa bao giờ nguội tắt. Và, mơ ước lớn nhất của tôi là sau khi tốt nghiệp được đặt chân vào giảng đường đại học.

Tháng 6/2003, tôi đã hoàn thành kỳ thi tốt nghiệp lớp 12. Tôi đã mang hồ sơ thi tuyển tới một số trường đại học xin dự thi nhưng đều nhận được câu trả lời đáng buồn là: Nhà trường không tổ chức thi cũng như tiếp nhận hồ sơ của học sinh khiếm thị. Tôi rất buồn và thất vọng. Nhưng thật may mắn cho tôi, khi chỉ còn một thời gian ngắn nữa là kỳ thi đại học diễn ra thì tôi được biết Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội có nhận hồ sơ của học sinh bị khiếm thị.

Vậy là, tôi nộp ngay hồ sơ vào trường rồi bắt đầu vùi vào ôn thi. Thật không ngờ, tôi đã đỗ trong niềm vui khôn tả của tôi và gia đình. Để có điều kiện trang trải cho việc ăn học, tôi đã xin về làm xoa bóp bấm huyệt ở Hội Người mù quận Tây Hồ.

Khi đã ngồi trên giảng đường đại học, tôi tự hỏi: Điều gì, nguyên nhân nào đã giúp tôi có được kết quả này nhỉ? Sự yêu thương của gia đình? Sự tận tình dạy bảo của thầy cô? Sự giúp đỡ của bạn bè và mọi người trong xã hội hay sự cố gắng của bản thân? Có lẽ là tất cả, nhưng chưa đủ, còn một yếu tố quan trọng nữa đó chính là chữ nổi. Nhờ có hệ thống chữ nổi mà những người khiếm thị như chúng tôi mới có thể được đi học và được tiếp cận với kho tàng kiến thức vô giá của nhân loại.

Tôi thầm biết ơn ông Lui  Brail,  người đã phát minh ra hệ thống chữ nổi diệu kỳ. Có thể nói, phát minh của ông đã góp phần quan trọng trong việc khai sáng cho hàng triệu người khiếm thị trên toàn thế giới.

Bình minh lên

Tôi rất hạnh phúc và hãnh diện vì mình thi đỗ đại học. Nhưng kể từ khi ấy, tôi lại phải đối mặt với những khó khăn mới. Khó khăn đầu tiên là vấn đề đi lại. Từ nơi ở đến trường học tôi phải chuyển 2 lần xe buýt (tuyến xe 25, 27). Không có ai đưa đón, tôi phải hoàn toàn tự lập. Đường đi, lối lại chưa quen, hai bên đường không chỉ có cống rãnh mà còn vô số vật cản khác. Nào thì ôtô, xe máy đỗ bừa bãi, nhà nhà mở quán đã lấn hết vỉa hè lại còn lấn xuống cả lòng đường…

Lúc nào tôi cũng phải khua gậy một cách nhiệt tình không mệt mỏi nhưng vẫn không tránh khỏi những “tai nạn”. Tôi cứ liên tục bị xưng đầu, tím trán, hai cẳng chân thì thay nhau chống trả vật cản. Chỗ này chưa hết bầm tím lại đến chỗ khác, cũng có khi chỗ bầm tím ấy phải gánh chịu hai, ba lần liên tiếp. Những ngày nắng ráo đã vậy, những ngày mưa mới thật khổ. Mọi người đi tìm chỗ trú, còn tôi cứ “hiên ngang” đứng che ô một mình ở điểm chờ xe buýt mặc cho mưa gió đến lạnh cóng.  Những lúc ấy tôi thấy sao mà tủi thân đến thế!

Lớp tôi có 130 sinh vên trong đó có tôi và 3 bạn nữa cùng bị khiếm thị. Khó khăn lớn nhất của chúng tôi là không có giáo trình để học. Khi thầy cô giảng bài, 4 chúng tôi phải hết sức tập trung nghe và ghi lại để về nhà có tài liệu học. Bên cạnh đó, những môn học khó hay quan trọng tôi phải mượn sách của các bạn về nhà nhờ người đọc rồi thu vào băng để nghe lại.

Khi được tiếp cận nhiều hơn với máy vi tính, chúng tôi được biết đến phần mềm hỗ trợ cho người khiếm thị. Đó là phần mềm có thể đọc được tất cả các dữ liệu trên màn hình máy tính, đọc thư điện tử… Quả thật, phần mềm này đã giúp chúng tôi rất nhiều trong học tập cũng như tra cứu trên mạng.

Do đặc thù của môn học phải quan sát nhiều nên đôi khi thầy cô đưa ra những bức ảnh rồi gọi sinh viên lên nhận xét thì chúng tôi đành chịu. Khổ nhất là những môn học sử dụng đến máy chiếu. Chúng tôi không thể nhìn  thấy màn hình để theo dõi bài giảng chỉ nghe thấy những tiếng bấm chuột lách tách mà tưởng tượng.

Bạn sẽ thắc mắc, vậy chúng tôi trả bài bằng cách nào? Tất nhiên là chúng tôi phải trả bài kiểm tra bằng cách đánh máy chữ sáng. Nếu ai đó đã từng một vài lần sử dụng loại máy này thì mới hiểu được nỗi khổ của chúng tôi. Trong giờ kiểm tra phải đánh với tốc độ nhanh làm cho mười đầu ngón tay bỏng rát. Thêm vào đó, do không nhìn thấy nên có chỗ đánh sai cũng không biết để sửa, đôi khi hết giấy các dòng chữ chèn lên nhau khiến thầy cô không đọc được…

Đặc biệt khi cả 4 chúng tôi cùng đánh sẽ gây ra tiếng ồn tựa như một xưởng cơ khí nhỏ vậy. Điều đó làm chúng tôi rất ái ngại vì làm ảnh hưởng tới các bạn xung quanh. Nhưng rồi chúng tôi cũng tìm được cách khắc phục những hạn chế và khó khăn ấy. Cứ thế tôi đã từng bước học hết 5 năm đại học. Giờ đây, tôi chỉ còn một kỳ thực tập nữa là thi tốt nghiệp

Còn tiếp

 

 

  Nguyễn Huy Việt
 
 

Có 1 phản hồi tại Với tôi ánh sáng không bao giờ tắt (kỳ 1)

  1. gà tây nói:

    Thật khâm phục các anh chị đã chiến đấu anh dũng với nghịch cảnh đế hòa nhập với cuộc sống vốn không dễ dàng này.
    Không biết phần tiếp theo có sẵn ở đây chưa.
    Rất mong các anh chị luôn vui tươi và tin tưởng ở bản thân và cuộc sống.

%d bloggers like this: