mái ấm cuộc đời

(một câu chuyện cảm động mà chân thực về nghị lực sống của một phụ nữ khiếm thị được người bạn đồng tật kể lại. đây cũng là câu chuyện tiêu biểu giúp ta hình dung được về một thời mà những người khiếm thị đã bằng nhiều cách để mưu sinh vượt qua tình hình khó khăn chung củaxã hội.)

Khi tôi mới tham gia sinh hoạt tại Hội Người Mù Quận Cầu Giấy thì gặp và làm quen với Kim Thị Huệ. Sau nhiều năm cùng sinh hoạt, tôi và Huệ trở nên gần gũi và thân thiết. Nhiều lần tỷ tê tâm sự, Huệ đã kể cho tôi nghe những nếm trải đắng cay của đời mình.
Huệ sinh ra ở Lập Thạch Vĩnh Phúc. Một vùng trung du nghèo khó, đồi núi sỏi đá, đất đai cằn cỗi. Mẹ Huệ sau lần sinh ra em thì chẳng may qua đời do căn bệnh mà lúc đó người ta gọi là hậu sản. Nhưng thật ra là sau khi sinh đã mất sức lại không được bồi bổ nên sức khỏe ngày càng hao kiệt mà chết.
Người ta thường nói:
“ Mồ côi cha ăn cơm với cá
Mồ côi mẹ liếm lá đầu đường”
Ý nói, khi còn nhỏ sự chăm sóc của người mẹ dẫu sao cũng chu đáo hơn người bố. Ở hoàn cảnh của Huệ thì quả như vậy. Mất mẹ,tuy có bố nhưng ở cái nơi chó ăn đá gà ăn sỏi ấy để làm cho cái cuộc sống ngày có hai bữa ăn đút miệng, bố Huệ phải quần quật suốt ngày nên chẳng còn thời gian đâu mà chăm sóc Huệ.
Hơn hai tuổi, một thảm cảnh đã ập đến trở thành định mệnh của đời Huệ. Đó là một trận sốt lên sởi, do biến chứng đã vĩnh viễn cướp đi ánh sáng của cuộc đời. Đã khổ giờ lại càng khổ. Ở cái tuổi thứ ba nào đã biết gì, Huệ chỉ biết thui thủi lê la, dò dẫm một mình trong gian nhà để bố đi làm. Ở nhà một mình khóc mãi rồi nín, nín rồi lại khóc. Những ngày này không ít những cơn đói và khát luôn hành hạ Huệ. Ở lúc 3-4 tuổi, ít người có thể nhớ lại những ký ức của mình, nhưng theo Huệ nói có lẽ do quá khổ nên bất cứ những ký ức gì cũng khắc sâu in hằn vào tâm trí mình.
Thế rồi bố đi bước nữa, một người đàn bà mà em gọi là Mẹ Kế đã về sống với hai bố con. Tưởng có mẹ kế thì cuộc sống của em sẽ được cải thiện (ít nhất là về tình cảm ), nhưng thất vọng! Bà thực sự là mụ dì ghẻ theo đúng với nghĩa đen của từ này.
Theo Huệ kể, bà ấy chưa bao giờ gọi đúng tên mà luôn gọi là con Mù. Không hiểu sao từ đó bố cũng gọi như vậy. Bà ấy thường xuyên rầy la, quát mắng đánh đập Huệ. Nhiều lúc rất vô cớ, chẳng hiểu vì lỗi gì mà Huệ vẫn bị bà ta hành hạ. Mới bốn tuổi, không những phải tự lực mọi sinh hoạt của cá nhân mình mà còn phải kham tất cả những việc vặt trong gia đình.
Khi bà ta sinh con thì Huệ càng vất vả khổ cực. Những trận đòn roi trút xuống người như mưa. Những lời rầy la chửi rủa ngày càng độc địa, cay nghiệt. Những người xóm giềng cũng phải sót sa. Bố biết vậy nhưng im lặng chẳng nói gì. Chả trách các cụ vẫn có câu:
“ Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng ” là như vậy.
Không chịu nổi cảnh sống ở nhà mà như địa ngục ấy. Cực chẳng đã, năm 1959, mới 6 tuổi lại mù lòa, Huệ phải cắn răng, ngăn nước mắt lầm lũi rời bỏ cái nơi đã sinh ra mình, lần mò đến được Hà Nội.

Ngày ấy, ở khu vực chợ Bưởi người ta thấy một bé gái mù lòa, đen đúa, gầy gò, rách rưới chống gậy lang thang xin ăn. Cứ thế ngày qua ngày, nắng cũng nhưmưa. Cũng có ngày gặp người tử tế thì có cơm đút miệng. Ngày mưa gió thì nhịn đói co ro. Tối đến lại co quắp nơi xó chợ, vỉa hè. Mùa nóng thì muỗi đốt sâu xé, mùa rét thì tê tái, giá buốt …

Thế rồi, em theo người ta ra Hồ Tây mò ốc. Người lớn mò ở ngoài xa được nhiều, Huệ chỉ mon men mò trong bờ chẳng được là bao. Song cũng còn có ốc để đem về chợ mà bán. Tuy vậy, cũng chẳng được bình yên, số là Huệ chẳng biết bơi nên không ít lần em bị sóng xô ngụp nước, có lần bị sa xuống chỗ sâu suýt chết, sợ quá, đành bỏ nghề mò ốc Hồ Tây.
Không hiểu ai mách, Huệ trôi dạt đến chợ Đồng Xuân kiếm sống. Ở đây, Huệ sắm một chiếc ấm tích và mấy chiếc cốc thủy tinh (cứ gọi là sắm đi vì gia sản của Huệ có được là bao). Ngày ngày, Huệ bán nước chè dạo. Thời gian quen dần, Huệ bán kèm thêm thuốc lá lẻ. Vốn thì không có, nhưng được mấy chị ở đó cũng thương tình, sáng các chị ứng cho Huệ mấy bao thuốc các loại để bán. Chiều bán được thì mới hoàn lại tiền vốn cho các chị. Thế nhưng kẻ cắp chẳng chừa ai. Có lần, Huệ bị móc túi mất sạch tiền. Vậy là phải vài hôm sau Huệ mới trả được tiền vốn.
Ngày tháng dần trôi, cuộc sống cứ thế cũng theo dòng. Sống giữa chốn đô thị phồn hoa, nơi buôn bán sầm uất nhất Hà Nội, Huệ cũng kiếm được cho mình miếng cơm manh áo.

Năm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới , để làm cho đường phố phong quang, sạch đẹp, nhiều tuyến phố đã dẹp bỏ những điểm buôn bán vỉa hè. Thành phố đã duy trì quản lý chặt chẽ hơn. Thế là Huệ dạt ra vùng ngoại thành ở Chùa Hà kiếm sống. Nơi đây lúc đó là xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, nay là phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy. Cũng chính nơi đây, đời Huệ đã bước sang một khúc rẽ.
Những ngày đầu cũng chưa biết làm gì để phù hợp với mình. Ban đêm vẫn phải vạ vật nơi vỉa hè, góc chùa. Có người mách:ở sát bãi tha ma còn một khoảng đất đã có một số người dựng nhà ở đó. Thế là Huệ dùng một phần vốn liếng mà em đã dành dụm được, nhờ người dựng cho mình một gian lều khoảng 9-10 mét vuông để ở. Nói là nhờ thế thôi, chứ thật ra là phải thuê người ta làm. Đêm đầu tiên được ngủ trong chính gian nhà của mình, Huệ đã giàn giụa không cầm nổi nước mắt vì sung sướng. Mặc dù mới chỉ là nằm trên vài tấm ván xin được ghép lại mà thôi.

Nơi đây, vâng! Cũng chính nơi đây Huệ được một người dẫn dắt giới thiệu tham gia vào Hội Người Mù huyện Từ Liêm.
Huệ nhanh chóng hòa nhập cùng những người đồng tật. Ở đây, không thấy có sự ngăn cách phân biệt. Ai cũng chân tình cởi mở. Huệ vui hẳn lên, lao vào tham gia mọi hoạt động của hội. Huệ được lãnh đạo phân về tổ sản xuất làm nấm và hướng dẫn quy trình kỹ thuật làm nấm. Tất cả mọi công đoạn gồm: Đầu tiên là băn rơm để ủ, tiếp đến đóng rơm đã ủ vào bịch rồi cấy các phôi giống vào từng bịch, tiếp đến đem những bịch đó xếp vào nhà kín. Hàng ngày dùng bình phun sương để tưới cho nấm. Nói thì đơn giản thế thôi, nhưng với người mù thì cũng không dễ dàng. Ví như: khi cấy giống nếu không đều thì khi nấm mọc sẽ có bịch mọc nhiều, bịch mọc ít. Bịch mọc nhiều nấm bị chen chúc nhau sẽ nhỏ và gầy hoặc khi tưới phải đảm bảo độ ẩm. Nếu khô nấm sẽ không mọc hoăc có mọc nhưng nấm gầy, nếu tưới đẫm quá nấm bị ẩm sẽ thối … Những ngày đầu còn lạ lẫm chưa quen việc, Huệ gần gũi học hỏi các bác, các anh chị trong tổ. Nhờ vậy Huệ nhanh chóng thành thạo mọi công việc. Lứa nấm đầu tiên thu hoạch, Huệ cứ thẫn thờ vuốt ve những chiếc nấm mịn màng mát rượi trong tay. Huệ sung sướng đã có một công việc ổn định cho mình. Tháng đầu tiên nhận những đồng tiền lương ( mặc dù chưa nhiều ) mà tay Huệ cứ run run.

Cứ thế, ngày nắng cũng như ngày mưa, Huệ miệt mài say mê với công việc.
Năm 1990, Huệ được hội cho đi học lớp chữ BRai ( chữ nổi dành riêng cho người mù). Lần đầu tiên trong đời, gần 40 tuổi mới được cắp sách tới lớp, Huệ không khỏi xốn sang. Nhớ buổi viết và sờ đọc được hai tiếng Bác Hồ mà không cầm nổi nước mắt. Đêm đó về thao thức mãi không ngủ được, tới khi thiếp đi thì Huệ sung sướng được gặp Bác. Khi tỉnh mới biết là mình vừa mơ mà nước mắt vẫn còn giàn giụa. Sau khóa học Huệ đã đọc thông viết thạo. Huệ tích cực tham gia mọi phong trào hoạt động của hội như: Văn Nghệ, Phụ Nữ, Hội Viên Trẻ …
Năm 1991, Huệ được đại hội Hội Người Mù huyện Từ Liêm tín nhiệm bầu vào Ban Chấp Hành và đã có nhiều đóng góp đưa hoạt động của hội ngày càng sôi nổi, phong phú …
Năm 1997, Quận Cầu Giấy được thành lập, Huệ là hội viên Hội Người Mù Quận Cầu Giấy. Lúc này hội lấy nghề tăm tre và chổi đót làm nghề truyền thống. Huệ lại đi tập huấn lớp làm chổi của Thành Hội mở. Huệ nhanh chóng làm quen với những công đoạn làm chổi. Từ bóc tách cành nhánh của cây đót rồi bó con, tiếp đến là cổ rồi chêm cán và cuối cùng là quấn hoàn thiện. Yêu cầu của chiếc chổi là làm sao phải chặt, chắc và có dáng đẹp. Vì vậy, đòi hỏi người làm phải có lực, tay thiết mạnh và có đôi bàn tay khéo léo. Trở về, Huệ trở thành chủ lực của tổ. Huệ đã làm ra hàng ngàn, hàng vạn chiếc chổi chất lượng. Những chiếc chổi do Huệ làm ra đã trở thành thương hiệu trong địa bàn Quận. Cứ nhắc tới chổi của Hội Người Mù thì số lượng bao nhiêu Hội Phụ Nữ các phường cũng tiêu thụ bằng hết.
Qua nhiều năm, tháng nào, năm nào Huệ cũng đảm bảo ngày công cao nhất tổ. Hầu như người ta chẳng thấy Huệ nghỉ bao giờ. Mọi người thường nói: Ông trời cũng phú cho Huệ sức khỏe nên chẳng ốm bao giờ.
Riêng tôi thì nghĩ: Có lẽ Huệ đã quá khổ chịu nhiều mưa nắng gió sương, nếm trải nhiều điều kiện khắc nghiệt của môi trường sống nên cơ thể đã thích nghi đủ khả năng chống đỡ được bệnh tật.
Những ngày nghỉ thứ bảy, chủ nhật hay những ngày tuần rằm, mồng một người ta vẫn thấy cô gái Mù ngồi bán sổ số trước cửa Chùa Hà. Chính là Huệ đấy. Huệ còn nhận làm thêm của công ty Văn Phòng Phẩm. Tối tối, cặm cụi ngồi lắp ráp những chi tiết hoàn chỉnh cho một chiếc bút bi. Hầu như Huệ chẳng có thời gian rảnh rỗi.

Đến thăm Huệ, tôi thấy gian nhà nhỏ nhưng rất gọn gàng, ngăn nắp. Giờ đây cũng đầy đủ giường, tủ, đài, quạt điện, nồi cơm điện … Mùa hè có quạt mát, mùa đông có chăn ấm. Những bữa cơm không còn rau dưa kham khổ đạm bạc mà đã có thịt cá tươm tất hơn. Thế cũng mừng choHuệ.

Hàng năm, gần tới ngày dỗ mẹ, Huệ thường về quê thắp hương tưởng nhớ tới người mẹ thân yêu. Và cũng là để thăm bố, mẹ kế cùng các em các cháu, dẫu sao đây vẫn là những người ruột già thân tình gần gũi của mình. Vì vậy Huệ không quên dành cho họ những món quà ( dù chỉ là nhỏ thôi). Riêng với bố, lần nào Huệ cũng dành một khoản tiền bằng sức lao động của mình để biếu bố.
Suốt mấy chục năm gắn bó với Hội Người Mù, Huệ đã có công ăn việc làm ổn định. Có thu nhập đều đặn. Huệ cố gắng nỗ lực trong mọi phong trào của hội. Huệ sống chân thành, luôn vui vẻ chan hòa với mọi người.
Huệ coi Hội Người Mù như là mái ấm của mình mà những bạn đồng tật là người thân.

Bài viết của cô Đào Thị Huệ – hội viên Hội Người Mù quận Cầu Giấy, Hà Nội

Có 1 phản hồi tại mái ấm cuộc đời

  1. Hà Linh nói:

    Nghị lực thật em nhỉ?
    Nhìn vào Huệ mà tự nhắc mình phải cố gắng hơn nữa! Cảm ơn em một câu chuyện thật ý nghĩa!

%d bloggers like this: