Sẹo Facebook

TTCT – 1. Hôm qua thầy giáo cũ của tôi chính thức kết bạn với tôi trên Facebook. Hai mươi năm trước, ai mà tưởng tượng nổi có ngày chúng tôi sẽ bình luận một cách “dân chủ” về những vấn đề đời thường hay văn chương như bây giờ

Quả thực, mạng xã hội đã làm phẳng các mối quan hệ thứ bậc.

Minh họa: Vũ Đình Giang

Nhưng từ mức độ “phẳng hóa” đơn thuần đó đến mức độ các thành viên của mạng đánh đồng tâm lý của người khác theo một kiểu áp đặt lại quá dễ dàng. Không ít hơn chục lần tôi thấy bạn bè mình giật câu than thở là phải ngồi dọn danh sách bạn Facebook, và hủy mối quan hệ bạn bè ảo đó khi không tài nào nhớ nổi một người xa lạ kia đã làm quen mình vì lẽ gì và “tại sao cô ả/gã này lại chễm chệ trên tường Facebook nhà mình, phán những câu ngu xuẩn chẳng liên quan?”.

Chưa hết. Nhiều người đã dọa dẫm, cãi cọ và tức tối với những bình luận có khi là bông đùa thiếu tế nhị, có khi là sự nóng lạnh không kiểm soát được trong tâm lý thường nhật, khi trạng thái trên Facebook càng lúc càng nhất quán với đời thực. Facebook và các trang mạng xã hội sẽ là tuyệt vời khi ta thỏa mãn nhu cầu được chia sẻ, nhưng cũng là thảm họa khi ta bực dọc với sự vô tình của nó.

Chắc cũng có lần bạn đăng một bức ảnh đẹp hay một ghi chép công phu lên Facebook nhưng chỉ nhận được rất ít lời bình luận và cú “like”, trong khi một dòng trạng thái cảm thán nhạt nhẽo của kẻ khác lại đắt khách như tôm tươi. Bạn thấy mình như bị rơi vào bẫy vậy.

2. Không phải đến giờ chúng ta mới biết điều đó, mà ngay từ khi Facebook bắt đầu có ảnh hưởng, truyền thông đã có nhiều cảnh báo về sự ảnh hưởng của chứng nghiện Facebook, sau khi đã có bài học của các mạng Yahoo 360!, Twitter… Nhưng sự tiến bộ của công nghệ kỹ thuật số, duyệt Internet nhanh hơn nhờ các thiết bị truy cập cầm tay đã khiến chứng nghiện Facebook nối đuôi các chứng nghiện cổ điển như rượu chè, cờ bạc và đã kịp cạnh tranh với chứng nghiện cũng tân thời là video game.

Nhà nghiên cứu người Na Uy Cecilie Schou Andreassen đã chỉ ra mặc dù Facebook không phải là hóa chất như rượu hay ma túy, nhưng người dùng của nó hoàn toàn tương đồng với các tiêu chuẩn của các chứng nghiện kia.

Cũng chính vì không có thực thể vật chất nên điều đáng buồn là chúng ta chưa có cách nào chế ngự chứng nghiện này, trong khi chờ đợi sự suy thoái của công nghệ mạng xã hội và trông mong sự hạ nhiệt của chính mình. Chúng ta đã biết tác hại từ những chuyện như vợ chồng lục đục vì vô tình thổ lộ cảm xúc riêng tư, hay chuyện hội chứng “hội đồng” khi có một tin chưa được kiểm chứng tung ra và lan truyền chóng mặt trên mạng.

3. Facebook không còn là câu chuyện nghiện của giới trẻ như có thể thấy ở video game, mà là chuyện của mọi lứa tuổi biết đọc biết viết. Tỉ lệ 54% số người dùng Facebook toàn cầu trên 25 tuổi và 28% trên 35 tuổi cho thấy khách hàng của Mark Zuckerberg không còn là đồng niên hay sinh viên như thời anh ta học ở Harvard nữa.

Nhân vật trẻ tuổi xuất chúng này thật ra đã nắm được cái thóp của con người thời công nghệ số là sự cô đơn của họ. Bộ phim The social network (Mạng xã hội) nói về người sáng lập Facebook đã chỉ ra sự cô độc và dị biệt trong hành xử của chính anh này, một cá nhân lạnh lẽo và khắc nghiệt với bạn bè ngoài đời.

Và đến lượt chính chúng ta, những người trước đây vẫn kết nối với nhau bằng những phương thức giao tiếp truyền thống, đã lũ lượt rủ nhau tái lập sự kết nối ấy trên mạng. Nó khiến chúng ta trở thành những kẻ có vẻ như là vui đâu chầu đấy, khóc rồi cười ngay, hệt như người bị “thuốc”. Trong khi thực tế chúng ta không hoàn toàn cô đơn, không thật sự thiếu kết nối ở đời thực.

Chúng ta bị hấp dẫn trước cái gọi là tính thời thượng của công nghệ. Nó gây ảo tưởng chúng ta chạy bằng tốc độ của thế giới văn minh một cực. Nó độc tài đến mức như nhà báo Thomas L. Friedman đã viết: “Trừ khi bạn thoát khỏi Facebook và gặp mặt ai đó, bạn thật sự không hoạt động gì hết”.

4. Nhưng vấn đề ở đây là nếu không phải Facebook thì sao? Chúng ta còn nhớ cơn sốt blog 360 của Yahoo! mới vài năm trước đấy thôi, chúng ta cũng tốn cả vài tiếng mỗi ngày ngụp lặn trong cái mạng xã hội hãy còn “thô sơ” đó – kỳ thực hôm nay chúng ta đang lặp lại với cấp độ bị chi phối nặng hơn.

Facebook chỉ là một trong những ứng dụng trong rất nhiều ứng dụng mặc định đã cài đặt sẵn trong điện thoại, iPad, chúng ta chẳng phải là nhắn tin nhoay nhoáy, mấy ngón tay lướt đầy háo hức dưới gầm bàn những cuộc họp đó sao. Chúng ta hủy hoại những cuộc gặp gỡ khi cả ta lẫn đối tác chốc chốc gí ngón tay check xem có gì mới, bỏ rơi ngay cái người đang ngồi gần gũi trước mặt kia.

Nhưng cũng chính sự độc tài của công nghệ, theo các nhà nghiên cứu như Andreassen, cũng là dấu hiệu chỉ ra rằng Facebook sẽ bị thay thế bởi những ứng dụng khác. Một thập niên trước, các ứng dụng của Yahoo! làm mưa làm gió và giờ ứng dụng blog 360 của hãng này đã chính thức chấm dứt hoạt động, trong khi Facebook lên tới 1 tỉ người dùng.

Facebook chắc rồi cũng như loài khủng long, sẽ tuyệt chủng vì quá cỡ? Điều đó nghe quá ư xa xôi nhưng có vẻ hứa hẹn, song chắc chắn là chúng ta chưa hề chuẩn bị gì cho sự lụi tàn của nó. Rồi chúng ta sẽ vội vã gia nhập một cộng đồng mới. Facebook và các mạng xã hội có làm sẹo vĩnh viễn trong đầu chúng ta?

NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ

Có 3 phản hồi tại Sẹo Facebook

  1. (đây là chia sẻ của một bạn trên diễn đàn mailList SMCC của người khiếm thị): Tay nhà báo này thì nhìn nhận ở góc độ tiêu cực. Tuy nhiên cái gì cũng có tính hai mặt của nó. Trong cái cuộc sống công nghiệp, mọi thứ đều phải chính xác từng li như hiện nay thì nhu cầu được lắng nghe của con người gần như không còn chỗ. Vì vậy có lần THS Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu đã nói rằng Facebook chẳng qua là một công cụ để thỏa mãn nhu cầu bộc lộ và trao đổi cảm xúc – một nhu cầu rất chính đáng của con người. Với những điều không biết nói với ai, người ta cứ viết ra như vậy cũng là để nhẹ nhõm. Mấy ngày nay, thông tin về giải nhất Eureka của tôi cũng đến được với nhiều người nhờ Facebook và họ đã chia vui bằng những cảm xúc, những lời nói rất thật từ đáy lòng. Điều đó thật đáng quý. Bên cạnh đó, nếu nói về mặt tiêu cực thì bản thân tôi ngán nhất là người ta cứ bấm vào nút like mà không thể nào xác định được cảm xúc. Gần đây nhất là câu chuyện của người bạn. Bạn này ghi trên trạng thái là: mắt mình đã mờ dần và có khả năng tắt luôn. Một người đọc lại bấm vào nút like. Trong tâm trạng rối bời, làm sao hiểu được họ bấm like là họ thích thú khi bạn tôi sẽ mù luôn hay chia sẻ với nỗi buồn của bạn ấy. Một lần khác, tôi viết trên tường nhà mình cảm nhận khi trả lời e-mail cho một người xa lạ về một phần mềm thu âm mà anh ấy cần để thu lại giọng nói của một người bạn trước khi người ấy qua đời. Rất nhiều người bấm like, và tôi nghĩ rằng hầu hết họ đồng cảm với mình. Sau đó, một người bạn đọc được câu chuyện và nhìn hết những người đã bấm nút like rồi liệt kê ra một vài người với nhận xét: tui thấy mấy ông bà này, hễ chui vô facebook thì ai viết cái gì cũng like. Vài năm trước tôi hay nhận xét những việc làm như vậy bằng một câu đại loại như nó thích chỉ để thích, nó khóc chỉ để khóc… Nếu sự thật đúng là như vậy thì những người này đã sử dụng chức năng like của facebook không đúng mục đích. Tóm lại thì Facebook giúp con người ta rất nhiều khi mà họ không thể có thời gian cho những người bạn, người thân, nhưng chúng ta đừng dùng nó mà thay thế các mối quan hệ xã hội. Như vậy thì mạng xã hội mới phát huy được tính tích cực của nó.

  2. Lão phu nói:

    Chắc phải dần dần thích nghi thôi. Cái gì ban đầu cũng bỡ ngỡ mà…

  3. Khánh Vân nói:

    tôi cũng đã dùng face được hơn 1 năm rồi, có thể vì thời gian chưa dài, có thể vì mục đích dùng của tôi đơn giản chị coi đó là nhịp cầu rút ngắn mọi khoảng cách về địa lý và không gian với những người thân, người bạn ở xa chứ ko hẳn coi đó là nơi thể hiện bản thân. Mỗi ngày lên face tôi vui khi nhận được những thông tin mới từ những người mà tôi quan tâm và cũng sẵn sàng chia sẻ cùng họ những trạng thái cảm xúc mà họ đăng. nhiều khi face của tôi có cả sự góp mặt của những người tôi chưa quen nữa nhưng với tôi chỉ cần họ đừng đưa ra những lời bình nhí nhố hoặc dùng thái độ ko nghiêm túc thì có thêm người chia sẻ càng tốt chứ sao. Tôi thì ko định bói về kết cục của FB mà tôi nghĩ khi mà nó vẫn có thể đáp ứng được 1 phần nhu cầu giao tiếp của con người thì nó vẫn xứng đáng tồn tại chỉ là thái độ khi sử dụng công cụ đó cũng cần phải có thời gian mới đi vào quỹ đạo chuẩn được…

%d bloggers like this: