sự trăn trở của một kẻ lười biếng

Người viết bài này đã nghe đi nghe lại nhiều lần những đoạn em nói sâu về các căn bệnh của giáo dục Việt Nam. Những điều em nói, xét cho cùng không mới, như bệnh thành tích, học vẹt, dối trá trong thi cử, nhồi sọ, áp đặt một chiều, thủ tiêu tư duy độc lập và năng lực sáng tạo. Nhưng cái độc đáo của em là ở chỗ, đó là dám nói thẳng và mạnh dạn đưa ra giải pháp như hãy bỏ ngay kỳ thi tốt nghiệp THPT, hãy cho học sinh học tới lớp 9 là đủ, sau đó đi học nghề để chuyên sâu về thực hành. Đặc biệt hơn, độc đáo hơn, đó là những suy tư, thao thức đó lại là của một cậu học trò lớp 12.Em nói: “Đánh giá nhau không quan trọng là anh biết được bao nhiêu, mà là anh làm được bao nhiêu với những gì anh biết? Học về thuyết lượng tử ánh sáng mà không lắp được bóng đèn thì học làm gì? Học về phương pháp lai phân tích, quy luật di truyền mà trồng một cái cây không lớn nổi thì học làm gì”. Em muốn những người đi học đừng tự hào những gì mình biết, mà hãy tự hào những gì mình làm được.“Kiến thức SGK toàn lý thuyết, thiếu thực tiễn, nhiều chỗ mang tính chất hàn lâm mà đâu phải ai cũng đầy đủ năng lực và niềm yêu thích. Quỹ thời gian thì không đủ, nhiều bạn trẻ thức thâu đêm học bài, như thế chỉ tổn thọ chứ chẳng được cái lợi lộc gì”.“Cả nhân loại vẫn còn bước đi trên con đường tìm kiếm chân lý. Những định luật vững chãi nhất trong giờ phút này cũng được bổ sung và hạ bệ trong nay mai. Chúng ta dựng lên những tượng đài để rồi nó chắn lối trong quá trình phát triển tư duy”.Đạo đức là điều em cho rằng phải đặt cao hơn việc truyền đạt tri thức. Nếu tri thức là một cỗ xe thì đạo đức là vôlăng, nếu tri thức là chiến mã thì đạo đức là dây cương. Với đạo đức, tri thức sẽ hướng thiện.Về vai trò của giáo viên, em phân tích: “Vậy trách nhiệm cao cả của giáo viên là tìm ra con đường dẫn đến trái tim của học sinh, khơi gợi tình thương yêu giữa con người với con người, với con người và vạn vật và thực sự có nhiều hơn một con đường như thế. Các môn văn học, xã hội khác cũng là để nuôi dưỡng tâm hồn. Nhưng chúng ta không làm được, học chỉ là miễn cưỡng, học thuộc lòng cả tiểu sử, cả một bài dài. Các giá trị nhân văn rất khó đi vào lòng người khi chỉ nói suông, tự ca như những con vẹt”.Cuối cùng, em kêu gọi những người nắm trong tay quyền hành hãy thay đổi ngay từ bây giờ. “Hãy gạt bỏ tự ái, hãy nâng cao tự trọng mà làm… Dân tộc nào có nhà trường tốt nhất, dân tộc đó đứng trên những dân tộc khác”. Điều em tỏ ra trăn trở nhất là sự tự do, độc lập của một cá nhân: “ Chúng ta không phải là loài ký sinh, chúng ta là những con người độc lập… Tự do là khi tâm hồn được giải thoát. Chỉ có sự giải thoát cho bản thân mới giải thoát cho tất cả. Tất cả vì một nền giáo dục khai phóng”.

Quan điểm, chính kiến của nam sinh lớp 12 được nhiều chuyên gia, nhà quản lí giáo dục ủng hộ. Một số quan điểm trong bài thuyết trình rất hùng biện của em sẽ còn phải tranh luận, tất nhiên là thế. Nhưng chưa bàn đến tranh luận đúng-sai, bỏ qua tài năng hùng biện hiếm có của em, hãy nghe kỹ nội dung bài nói của em sẽ thấy rất nhiều người trong chúng ta thua xa một em học sinh. Người lớn chúng ta, phụ huynh, trí thức, thậm chí là đội ngũ giáo viên, cao hơn nữa là các nhà quản lý giáo dục, có được mấy ai thao thức với nền giáo dục đất nước như em. Không phải thao thức bằng sự kêu ca, than vãn hay mắng chửi, mà nghiên cứu sâu sắc, có hệ thống và phản biện, đưa ra các giải pháp cũng có hệ thống. Những điều em nói trong hơn một giờ cho thấy em đã suy nghĩ và nghiên cứu rất kỹ lưỡng, không phải bằng bằng lý trí mà bằng cả trái timNếu như các nhà quản lý, lãnh đạo đều có trí tuệ và trái tim đầy nhiệt huyết đối với giáo dục như em học sinh 12 này thì đất nước Việt Nam mới có thể “đứng trên các dân tộc khác” như em đã nói.

Đặt vấn đề:

“Tôi là một học sinh lớp 12. Ở Việt Nam thì đây là giai đoạn khắc nghiệt nhất trong đời mỗi học sinh. Và chính sự khắc nghiệt này khiến cho những câu hỏi tích tụ qua bao tháng ngày dài sẽ phải bật ra ngoài thành những quan điểm. Và thực là tiếc nếu những quan điểm đó đúng với thực tại mà lại không được nói lên, không được phản ánh bởi vì thực tại mà tôi nói đến ở đây là việc mà tôi và rất nhiều người khác đã, đang và sẽ vẫn thực hiện hàng ngày – Đó là đi học!

Tôi rất muốn được sự lắng nghe từ những ai quan tâm tới chuyện học hành và quan tâm tới giáo dục. Bởi với tư cách một học sinh tôi thấy những gì mà chúng ta đang giáo dục đây, hậu quả không hề tươi sáng với bất kỳ thành phần nào của xã hội.”

1) Phần 1: “Học kiến thức cơ bản đến lớp 9 là đủ”!

Trước hết không có gì gọi là mới mẻ khi than vãn kiến thức thừa ở THPT hiện nay. Những kiến thức đó rất bổ ích nhưng nó cần ở với mỗi mức độ nào của mỗi người thì lại là một vấn đề khác. Con người ta sinh ra là khác nhau, tại sao tất cả lại phát triển theo cùng một hướng giống nhau? Phải chăng chúng ta đang quy quá nhiều kiến thức vào hai chữ “cơ bản”.

Nếu mỗi người hỏi tôi kiến thức học đến lớp mấy thì là “cơ bản”, với tôi mỗi lớp đều có kiến thức cơ bản riêng nhưng song hành với chúng lại có quá nhiều kiến thức không cơ bản chút nào.

Nếu có người hỏi tôi lớp mấy là đủ, tôi trả lời lớp 9 là đủ. Vì sao lại là lớp 9 vì tôi tin rằng tuổi 14, 15 xác định được mục tiêu nghề nghiệp của mình. Có người muốn làm lập trình viên, đầu bếp nhà hàng, giám đốc ngân hàng, thiết kế thời trang, thậm chí Bộ trưởng Bộ Giáo dục, đâu phải nghề nào cũng cần biết đến phương trình chuyển động? Một kỹ sư vật lý liệu có cần phân tích hình tượng nghệ thuật trong một bài văn hay không? Một nhà văn có cần biết phương trình của một loạt các phản ứng hóa học?

Với vốn hiểu biết hèn mọn của mình, tôi không tin có một nghề nào cần đến toàn bộ kiến thức THPT. Giáo viên hay giáo sư cũng đi theo một vài kiến thức chuyên môn của mình, kiến thức liên ngành rộng đến đâu cũng tùy vào tầm của mỗi người. Vậy mà học sinh lại phải đáp ứng bài tập, bài học của hơn một chục môn học thì phải làm thế nào?

Biết nhiều thì cũng tốt thôi nhưng để làm gì? Làm bài tập, làm kiểm tra, làm bài thi, thi đỗ rồi thì làm gì với chúng nữa? Nếu không làm được gì có ích cho bản thân thì cuối cùng anh học để làm gì? Đánh giá nhau không quan trọng là anh biết được bao nhiêu, mà là anh làm được bao nhiêu với những gì anh biết? Học về thuyết lượng tử ánh sáng mà không lắp được bóng đèn thì học làm gì? Học về phương pháp lai phân tích, quy luật di truyền mà trồng một cái cây không lớn nổi thì học làm gì?

Kiến thức chỉ có ích khi áp dụng vào thực tiễn, dù là lao động trí óc hay lao động chân tay. Học thì phải đi đôi với hành, có hành thì mới có hứng, không đủ điều kiện mà học thì chỉ có hạn.

Học phải có mục đích, mỗi bài học phải tỏ rõ được vai trò của nó đối với 100% học sinh. Cho đến bây giờ tôi nhớ, không có một giáo viên nào đề cập được đến mục đích thực dụng của môn học đó. Họ chỉ nói, hãy học đi, không đủ trưởng thành nên phải học tiếp, tiếp, tiếp mới chọn được con đường cho mình. Nếu cho rằng đây là một giai đoạn lựa chọn cho tương lai thì tại sao điểm số là một gánh nặng đòi hỏi phải cân bằng tất cả các môn?

Kiến thức SGK toàn lý thuyết thiếu thực tiễn, nhiều chỗ mang tính chất hàn lâm mà đâu phải ai cũng đầy đủ năng lực và niềm yêu thích. Quỹ thời gian thì không đủ, nhiều bạn trẻ thức thâu đêm học bài, như thế chỉ tổn thọ chứ chẳng được cái lợi lộc gì. Giáo viên nào thông cảm thì lại dạy cho có hình thức, học sinh như thế lại thiếu tôn trọng môn học, ảnh hưởng đến tinh thần đối phó trong công việc. Làm như thế mà mong có một tương lai sáng lạn. Thật là thê thảm!

Trong một cộng đồng đều có người giỏi ở lĩnh vực này, người khá ở lĩnh vực kia, không cần đến một thế hệ con người biết đầy đủ mọi điều. Chúng ta cộng hưởng với nhau để cùng phát triển một cách tốt nhất. Không cần đến một thế hệ mà con người phải được đào tạo tất cả mọi thứ, rồi đến khi nhiều người không biết mình sẽ làm các công việc gì, mong muốn đạt được điều gì, mục đích sống trên đời là gì?

Đến khi vào đại học, tùy những trường khác nhau, những kiến thức khác nhau, thứ mà chúng ta đã bỏ đến 3 năm trời nhồi nhét lại dần trở nên vô nghĩa, lãng quên.

Vì sao quên? Không phải vì không bao giờ dùng đến, không phải vì vượt quá dung lượng bộ nhớ cho phép, quên vì đa phần học không phải mở mang hiểu biết mà lao vào chạy đua thành tích với các loại cuộc thi. Mười hai năm học là 12 năm chạy đua với các kỳ thi bao gồm: Kiểm tra miệng 15 phút, 45 phút, học kỳ 1, học kỳ 2, cuối năm, thi tốt nghiệp, thi chuyển cấp, thi vào, thi ra, thi lên, thi xuống…

2) Phần 2: “Học để thi tạo ra thế hệ đối phó với mọi thứ”

Mục đích cao cả của việc học là trang bị cho người ta năng lượng sống thì bây giờ việc học biến dạng thành một mục tiêu khác là: Học để thi; Học để kiểm tra; Học vì đơn giản ai cũng như thế. Học để không bị tách rời số đông, làm theo số đông. Học để được an toàn. Học để có một cái bằng, để người ta nhìn mình với con mắt bao dung hơn. Hay nói cách khác học để đối phó với cuộc đời mà không có niềm đam mê. Học sinh cứ cắm đầu vào mà đối phó, đó là học thụ động, tư duy thụ động chỉ có làm nô lệ mà thôi. Trong khi chúng ta, theo cách mà người ta gọi là những chủ nhân tương lai của đất nước.

Chính nền giáo dục này đã tạo tiền đề cho tính cách đối phó hoành hành. Cách học ở trường cũng chỉ là đối phó. Đối phó là sự đặc trưng điển hình của sự bị động. Nó thể hiện vị thế bị động của cá thể trước tác nhân không mong muốn. Đối phó tồn tại hai mặt có ích và có hại. Khi nó giúp chúng ta sinh tồn, chống lại, chiến đấu với các mối đe dọa ở nhiều mặt, kết quả mang lại cải thiện được cuộc sống của ta, đó là có ích. Nhưng sẽ có hại khi nó trở thành bản chất, bạn đời chung thủy trong lối sống, nó biến ta thành bị động trước mọi vấn đề của xã hội. Nếu không nhận thức được rõ nó rất dễ bị chi phối.

Có lẽ ai cũng biết rằng cách mà chúng ta đang học ở trường cũng chỉ là đối phó. Ở đây tôi không nói đến việc mang phao vào trước mỗi giờ kiểm tra, bởi đó là điều hiển nhiên, tất yếu. Điều tôi muốn hỏi những ai là học sinh: Nếu sáng mai không kiểm tra thì hôm nay bạn có học không? Nếu mai được nghỉ mà ngày kia cũng chẳng kiểm tra môn gì thì bạn có mở sách ra để học không? Nếu không có bất cứ một khái niệm nào trong thi cử, bạn có mở sách ra để làm giàu cho bản thân mình không? Nếu có thì rất tốt, bởi cuộc đời này cần đến những con người như bạn. Còn nếu không thì bạn cũng giống như tôi và tuyệt đại đa số đều học để đối phó với các kỳ thi.

Chúng ta đều tạo điều kiện cho tính đối phó được ký sinh trong nhân cách, trong lối sống của mình. Như một cơn mưa dầm thấm lâu và nếu nặng hơn thì cả đời cũng sẽ chỉ làm hời hợt cho qua, không bao giờ toàn tâm, toàn sức với công việc được giao. Thật đáng sợ nếu một ngày kia ta lại đối phó với chính lĩnh vực mà mình đam mê, từng yêu thích. Nhưng xét cho cùng thì biết làm sao được. Đó là hậu quả của kiểm tra liên miên, kiến thức nặng nề và đặc biệt là những đòi hỏi về điểm số của cả gia đình và nhà trường.

Nhìn mặt ai cũng sáng sủa thế thôi, nhưng thực sự giáo dục đã biến học sinh thành những con lừa lười biếng và dối trá, phải đánh, phải thúc, phải ép mới chịu đi. Sẽ như thế nào khi đây là viễn cảnh của những con người sẽ phục vụ đất nước trong tương lai? Vì khi đó chúng ta không đối phó với giáo viên, với nội quy mà chúng ta đối phó với tất cả mọi thứ.

Người ta vẫn hay nói “học thì ấm vào thân”, không thể phủ nhận câu này. “Ấm” là cảm giác có thực khi sau rất nhiều ngày bạn giải được một bài toán, cảm giác vui vui, ấm áp lan tỏa. Bạn cảm thấy thoải mái với môn học này hơn, những ý niệm về sự đáng ghét chắc không còn, bạn khoái chí với bản thân mình, với môn học. Nhưng rốt cục, cảm giác ấm áp đó xuất phát từ đâu? Nguồn gốc sâu xa của nó là cảm giác bạn được an toàn trước mỗi bài kiểm tra, trước mỗi kỳ thi. Nó khác với sự hưng phấn mà chúng ta có được khi đánh được một bản nhạc yêu thích. Cái sự ấm áp đó như là chỉ là túp lều bé con để bao bọc cho mình trước sự khắc nghiệt trên hòn đảo mà ta ghét cay, ghét đắng. Thế thì đó là gì nếu không là một biểu hiện khác của sự đối phó. Trừ khi môn học đó trở thành niềm đam mê yêu thích của bạn. Có lẽ nhiều người không còn thấy khác biệt giữa điều mình muốn đạt được so với cảm giác làm được điều người ta muốn mình phải làm được.

3) Phần 3: Ôi bằng cấp, điểm số, bệnh thành tích!

Thi cử là cái gì mà con người ta phải đối phó với nó? Trong tình huống buộc phải đối mặt thì chúng ta lại đối phó. Thi cử là bắt buộc, không thi thì làm sao có điểm, làm sao có bằng, không thì thì làm sao vào trường, ra trường, làm sao có thể thi tiếp? Bản chất của cuộc thi là tìm ra ai là người chiến thắng, cuộc tranh đua của những người cùng chung một niềm đam mê, khát khao khẳng định bản thân, khát khao được về đích với vị trí thứ nhất. Còn thi cử trong học hành ngày nay là xem ai có thể vuốt mồ hôi mà thở phào nhẹ nhõm. Một đằng hoàn toàn chủ động, một đằng hoàn toàn bị động.

Vậy ý nghĩa của giáo dục có phải là đẩy con em vào sự căng thẳng, mệt mỏi sau mỗi kỳ thi, mỗi ngày lên lớp? Thay vì học sinh hào hứng giơ tay đóng góp thì thực tế học sinh chỉ sung sướng khi được thông báo nghỉ học. Người ta chào đón, hào hứng để tham gia các cuộc thi khác bao nhiêu thì học sinh lại phát ớn trước mỗi kỳ thi bắt đầu bấy nhiêu. Tại sao chúng ta lại sợ nó đến vậy? Điểm số là nguyên nhân! Điểm số là khái niệm đầy bất cập. Trước hết ta tạm chấp nhận nó như một chiếc thước minh bạch và sáng suốt để đo trình độ của con người (tạm chấp nhận thôi nhé). Ta chấp nhận nó đại diện cho lý tính, tài giỏi thì điểm cao, dốt nát thì điểm thấp, trắng đen rạch ròi. Nhưng không, để phủ nhận cho chính lý tính đó, thì từ trước đến nay điểm số luôn dính dáng phần nào đến cảm tính, nó có thể được nâng lên nâng xuống, được trừ một, được cộng hai, là công cụ bày để tỏ tình thương hoặc bày tỏ lòng từ bi, hay thậm chí để đem ra dọa nhau. Điểm cao cũng có thể đạt được bằng gian lận mà thôi.

Vậy chiếc thước này đã mất đi tính chất thứ nhất, đó là minh bạch. IQ chỉ là một phần nhỏ để đánh giá cá nhân, bài kiểm tra phụ thuộc vào tâm trạng và vốn hiểu biết tức thời của người chấm. Vậy thì cớ gì mà điểm số giữ được tính sáng suốt của nó? Điểm số bản thân nó đã là công cụ để phân loại con người, hiển nhiên sẽ phát sinh sự bất bình đẳng, sự tự phụ, tự ti, tị nạnh, cạnh khóe. Đó là điều không đáng có ở bất kỳ đâu, đặc biệt là bậc Tiểu học.

Tóm lại là nó không minh bạch, không sáng suốt, không có gì tốt đẹp. Chúng ta cuống cả lên để chạy theo một giá trị hão mà tưởng rằng là đang khẳng định bản thân mình. Nếu lúc nào cũng lăn tăn ba thứ điểm cao thấp thì có lẽ cuộc sống sẽ luẩn quẩn trong những thứ vô vị.
Bệnh thành tích ở đâu mà ra? Sẽ không có bệnh thành tích nếu chúng ta không biến bằng cấp thành tiêu chuẩn của quy chế để xét tuyển. Muốn không như thế ta phải cắt bỏ cái gốc, cái rễ, tức là căn bệnh thành tích. Muốn cai nghiện đương nhiên phải ngừng cung cấp thuốc cho con nghiện, người ta đánh giá nhau chủ yếu qua bằng cấp mà không phải qua năng lực. Đó không chỉ là tâm lý chung mà còn là quy định chính thức ở nhiều nơi.

Xét trong một ngành nghề, một cơ quan, chỉ có những thằng ngu mới không biết thằng nào là thằng giỏi. Một người tài giỏi khi đứng ở vị trí lãnh đạo sẽ biết dùng góc quan sát và năng lực của chính bản thân để đánh giá năng lực của người khác. Còn một thằng ngu sẽ phải dựa dẫm vào địa vị, bằng cấp, học hàm để mà tuyển dụng nhau. Vậy thì chúng ta còn tiếp tay cho những thằng ngu mà làm cái gì? Hay chúng ta lại muốn tiếp tay cho những thằng tham ô, hối lộ?

Không muốn có bệnh thành tích, chúng ta phải cắt bỏ bệnh thành tích, với tư tưởng đó xét trong phạm vi nhà trường thành tích chính là điểm số. Đừng tạo ra những điểm số. Đi học mà không có điểm nghe có vẻ điên rồ, với tôi điểm số có cũng được nhưng đừng quan trọng hóa nó. Điểm số thực chất chỉ là kết quả của một bài kiểm tra mà ở trường, ngoài môn thể dục, bài kiểm tra là tập hợp định nghĩa những câu hỏi có tính hệ thống. Những câu hỏi này đặt ra có sẵn đáp án, câu trả lời cố định để tính điểm.

Như vậy điểm số chỉ thể hiện năng lực ghi nhớ những cái đã được học mà không nói lên được những năng lực khác, thậm chí không kiểm chứng được việc anh có hiểu những gì mà anh nhớ hay không. Vì điểm số người ta sẽ tìm ra nhanh nhất câu trả lời có sẵn vào bài kiểm tra bao gồm các hình thức học tủ, học vẹt, gian lận. Làm như thế này không hề mang tính nghiên cứu và sáng tạo. Nó đã và đang xảy ra ở hầu hết các môn trong trường học. Thậm chí những môn khoa học tự nhiên, tưởng như nó đòi hỏi tư duy logic rất cao nhưng cũng phải thuộc lòng các công thức để áp dụng giải bài tập.

Không muốn làm bài tập cuối cùng lại bị đánh giá là yếu kém về tư duy, thế thì quá mỉa mai và không đời nào tôi ủng hộ. Một khi đã có điểm người ta chỉ học vì điểm. Hãy để cuộc đời cho điểm mỗi cá nhân, nâng tất cả lên cao rồi sẽ biết ai là người có đôi cánh.

Năng lực rất đa dạng, có bao nhiêu hoạt động thì có bấy nhiêu năng lực. Nói chung muốn đánh giá hãy nhìn sự tồn tại của mỗi cá nhân và ảnh hưởng của sự tồn tại ấy đến xã hội và môi trường xung quanh. Ảnh hưởng đó là gì, là công việc, là giá trị sản phẩm họ tạo ra. Sản phẩm có ảnh hưởng lớn là có giá trị cao, không có ảnh hưởng là đồ vô dụng. Những thứ có giá trị ảnh hưởng không bao giờ là những thứ có sẵn bày ra như đáp án trong bài kiểm tra”

4) Phần 4: “Người vô đạo đức thì tạt axit, tấn công bằng bom nguyên tử”

Một con người có thể nói là được cấu thành bởi 2 yếu tố: Tri thức và đạo đức. Nhà trường phải là cái nôi trau dồi cả về tri thức và đạo đức đối với học sinh. Bàn về đạo đức, thực ra không thể đổ lỗi hết cho gia đình khi một đứa trẻ tỏ ra vô lễ. Trẻ em không có quyền chọn cha mẹ, may thì được nhờ, rủi thành chịu, cha mẹ không tốt, không dạy được con, nhà trường phải là nơi làm điều đó. Trong gia đình những thứ tình cảm như tình mẫu tử, tình phụ tử ta đều tìm thấy được ở những động vật bậc thấp. Nhà trường phải là nơi giúp các em thành người. Đạo đức rất quan trọng.

Nếu tri thức là một cỗ xe thì đạo đức là vô-lăng, nếu tri thức là chiến mã thì đạo đức là dây cương. Với đạo đức, tri thức sẽ hướng thiện. Một người không có tri thức cùng lắm là gây hại một cách vô ý. Một người không có đạo đức thì cố ý hại người khác thì tạt axit, thì tấn công bằng bom nguyên tử.

Nền tảng đạo đức được hình thành rất sớm từ những năm tháng đầu đời, nó có khuynh hướng trở thành bản chất cố định, khó thay đổi. Chính vì vậy, phải giáo dục cho học sinh về đạo đức, số phận con người.

Nhà trường có 1000 học sinh, 1000 số phận khác nhau, số phận cá nhân sẽ quyết định số phận của cả một dân tộc. Một đứa trẻ hư chứng tỏ nhà trường thất bại, nhà trường thất bại chứng tỏ cả dân tộc thất bại.

Việt Nam đứng thứ 13 trong số những nước vô cảm nhất thế giới. Tôi không quan tâm đến những lời ngụy biện để phủ nhận con số đó, một thực tế văn hóa đạo đức xuống cấp đến mức nào cũng chẳng cần kể ra. Chúng ta hô hào báo chí đủ các kiểu nhưng hầu như không có kết quả nào ra hồn. Tất cả đều có nguyên nhân khởi phát từ giáo dục.

Bắt đầu mỗi năm học mới luôn có một cái bản mà giáo viên đọc cho học sinh chép vào vở, đó là nội quy nhà trường. Nội quy nhà trường luôn có mối quan hệ chuẩn mực văn hóa cơ bản, như là giữ gìn vệ sinh chung. Nhưng không nhiều người làm được đó vì mối quan tâm của người đi dạy và đi học vẫn là điểm số. Mặt khác nội quy thuộc về luật pháp, luật pháp đứng đằng sau đạo đức, khi nào đạo đức không thể cứu vớt được nữa thì luật pháp mới can thiệp.

Chúng ta lại cứ thích kỷ luật và cấm đoán nhiều hơn là cảm hóa. Nhìn thẳng mà nói, môn Giáo dục công dân từ lâu đã là môn kém coi trọng nhất trong bảng điểm, việc học nó chỉ mang tính hình thức và đối phó. Tôi nói không phải ủng hộ môn này sẽ thành trọng tâm để mà chúng ta thi đua nhau, như vậy sẽ chỉ khiến cho học sinh khổ thêm. Điều quan trọng cần nhìn rõ là có học chăm như thế nào đi chăng nữa cũng không bao giờ là đủ. Cách học của đạo đức không giống tri thức. Nếu tri thức chỉ đọc hiểu qua lý trí thì đạo đức biểu lộ qua trái tim. Để hình thành một con người đạo đức, không thể việc chỉ bắt người ta đọc ê a những đạo lý, những phần ghi nhớ cuối bài, không thể hiểu qua lý thuyết suông hay 10 phẩy trung bình môn. Tất cả những thứ đó không có liên quan đến tiêu chí đạo đức trong con người ta, mà chỉ có nguy cơ biến họ thành những kẻ đạo đức giả.

Trong suy nghĩ của đại bộ phận hiện nay thì “đầu tiên là tiền đâu”. Sống vì lợi ích bản thân, giữa xã hội sống đầy lý tính này thì đạo đức chỉ là thứ gì đó mơ hồ và xa xỉn. Khi ta cho một thứ, lý chí bảo rằng có nên không? Có nhận lại được điều gì không? Có được trả ơn không? Chúng ta không tin rằng khi làm việc tốt sẽ được trả ơn và có được sự thanh thản trong tâm hồn.

Chỉ có trải nghiệm mới khiến ta thực sự hiểu đạo đức là gì. Vậy trách nhiệm cao cả của giáo viên là tìm ra con đường dẫn đến trái tim của học sinh, khơi gợi tình thương yêu giữa con người với con người, với con người và vạn vật, và thực sự có nhiều hơn một con đường như thế. Các môn văn học, xã hội khác cũng là để nuôi dưỡng tâm hồn. Nhưng chúng ta không làm được, học chỉ là miễn cưỡng, học thuộc lòng cả tiểu sử, cả một bài dài. Các giá trị nhân văn rất khó đi vào lòng người khi chỉ nói suông, tự ca như những con vẹt.

Thế hệ đi sau không thể bồi hổi nhớ lại ký ức của thế hệ đi trước. Trách làm sao được khi giới trẻ chỉ nhìn thấy hàng hiệu, xe tay ga, đâu biết được nước mắt của người mẹ già thời kháng chiến. Tâm hồn sẽ càng mai một đi khi những giá trị rất đẹp lại bị mai một vì học thuộc lòng một cách vô cảm. Bản sắc dân tộc cũng vì đó mà rơi vào hố đen.

Tất cả nguyên nhân cũng chỉ vì cắm đầu vào những kỳ thi. Thầy giáo, cô giáo, những ngày đầu bước chân vào ngành sư phạm ai cũng muốn được cống hiến, được đóng góp, có thiên lương cao đẹp. Nhưng rồi thời gian lại trôi đi, cái lúc mà trời nắng chang chang, mồ hôi nhỏ giọt, lấy cái gì mà làm động lực?

Tất cả sẽ mãi chỉ là viển vông khi lương của giáo viên vẫn còn thấp như vậy. Mà lương lại là vấn đề của kinh tế, kinh tế có vấn đề phần nhiều là do tham nhũng, những kể tham nhũng muốn đứng được ở vị trí có thể tham nhũng ít nhất cũng phải trải qua 12 năm giáo dục. Vòng tuần hoàn này cứ luẩn quẩn một cách thật ảm đạm, thảm hại.

Chúng ta học rất nhiều nhưng học rất ít về con người. Trí thông minh của con người được chia làm 8 phần: ngôn ngữ, cảm nhận không gian, âm nhạc, vận động cơ thể, tương tác giữa các cá nhân, cảm nhận thiên nhiên, nội tâm, logic toán. Trong khi những môn trọng tâm như toán, lý, hóa đều học chuẩn phải có trí thông minh logic toán. Để trở thành một người văn minh, văn hóa phải có trí thông minh nội tâm, con người phải hiểu chính bản thân con người để có sự tự vấn, giằng xé trong tâm can để vạch rõ đúng sai, thiện ác, trụ vững trong một xã hội với phần đông là những kẻ vô văn hóa, vô đạo đức.

Càng hiểu rõ bản thân hơn ta càng có đề kháng với những thói hư tật xấu ở đời mà cái đó ở trường không có ai dạy. SGK chỉ quan tâm đến những con số và những con chữ. Cái khó của giáo dục không phải làm sao để học sinh thi đỗ mà dạy sao cho học sinh nên người mới đúng.

Nguồn: Lao Động

Tháng 4 19 2013

Tôi không thích đi học. Và tôi không phải người duy nhất.

Một học sinh lớp 12

Image removed by sender. Khi_con_chan_hocGiới thiệu của Phạm Xuân Nguyên: Xem clip “Sự trăn trở của một kẻ lười biếng” tôi thật sự bất ngờ vui mừng vì khả năng hùng biện hấp dẫn của một học sinh lớp 12 đã vạch ra đích đáng những lỗi hệ thống của cả nền giáo dục nước nhà bao nhiêu năm nay. Tôi tin em phải thương đau cho mình và bạn bè cùng thế hệ lắm mới nghĩ được và nói được như vậy. Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo nên xem clip này và mời em học sinh đó đối thoại thẳng thắn, công khai. Tôi tin, bằng vào những điều đã nghe và thấy trong clip, em có đủ năng lực suy nghĩ, biện luận, tranh luận cùng người đứng đầu ngành giáo dục, và cuộc đối thoại sẽ thú vị, hấp dẫn. Cuộc đối thoại đó nên được ghi hình lại và phát chiếu cho mọi người xem, như thế sẽ rất bổ ích. Nếu ông Bộ trưởng không làm được thế là ông thua kém học sinh của mình. Vì một nền giáo dục khai phóng! – tôi đồng tình và ủng hộ tư tưởng này của em học sinh khi kết thúc bài hùng biện rất hay của mình kéo dài hơn một tiếng đồng hồ. Và để tiếp sức cùng em, tôi giới thiệu ở đây bài viết của một học sinh nữ lớp 12 (em xin được giấu tên) cũng nói về sự chán ngán đối với việc học hiện nay. Cả bài nói và bài viết của hai em cuối cấp, tôi nghĩ, là chung cho cả mọi học sinh, mà nói thêm lần nữa, ông Bộ trưởng Bộ GD-ĐT phải nên đọc, nên nghe, và có đối thoại.

Tôi không thích đi học. Và tôi không phải người duy nhất.

Cách đây rất nhiều năm, tôi được cho đi học. Bằng một lẽ nào đó, bố mẹ tôi thấy cần phải cho con mình đi học, để tuân theo những quy tắc thông thường trong đời sống xã hội, để làm một gia đình bình thường, có những đứa con bình thường được đến trường theo mong muốn của những bậc làm cha mẹ. Thế là tôi bắt đầu đi học, như rất nhiều đứa trẻ khác cùng trang lứa. Trường cấp một của tôi là ngôi trường danh giá nhất nhì trong thành phố lúc bấy giờ, không may, trường cấp hai và cấp ba của tôi cũng vậy. Kiểu như khi hàng xóm sang chơi nhà tôi vào ngày tết, sau khi lì xì chán chê họ hỏi, nào, thế cháu nhà đang học trường gì nhỉ và khi tôi nói cho họ nghe tên trường, một cách chậm chạp và ít khoa trương hết mức, họ sẽ ồ lên và, à, ra là trường đó, thế cháu hẳn phải học giỏi lắm. Suốt những năm đi học tôi đã đối mặt với điều này, chưa một lần tự hỏi vì sao chỉ nghe tên một sự vật sự việc gì đó mà người ta có thể quy chụp tính chất của nó và những người liên quan đến nó là một. Đó là một sự vội vàng đầy thiển cận. Tôi không phải một đứa trẻ học giỏi. Một lần cũng không và sẽ chẳng bao giờ là vậy.

Lên cấp hai, cuộc sống học tập của tôi bắt đầu xuất hiện những dấu vết trắc trở. Tôi phát hiện bản thân không thể nuốt nổi các môn tự nhiên và rằng chúng đang giết chết tôi từng ngày. Nhưng ngoài tôi ra, không ai biết điều đó. Tôi muốn nói là, cả thế giới đều biết tôi đầu hàng các môn tự nhiên nhưng không biết chúng đang giết chết tôi từng ngày. Điều đó rất quan trọng, không phải ai cũng biết. Lẽ thường tình, tôi lao vào học thêm. Tôi cũng lo lắng chứ, nhưng sao bằng bố mẹ tôi cho được. Tôi học, học và học như một cỗ máy có đầy rơm trong đầu và người ta nhồi nhét đủ thứ nào các món chất nổ các công thứ tính toán thời gian các con số có những kí hiệu khốn khổ trên đầu và vâng, những thứ đó đã trở thành một công cụ tuyệt vời cho cuộc sống của tôi biết mấy. Tức là chúng chẳng làm gì cả.

Không biết có bao nhiêu đứa trẻ được cho đi học thêm từ hồi lớp một ở xung quanh tôi. Lần đầu tiên nghe chuyện này tôi nói, im đi, làm gì có chuyện đó. Ấy là sự thật. Tôi không hiểu người ta có thể đưa thứ gì mang tầm cỡ khó hiểu vào đầu một đứa trẻ sáu tuổi, thôi nào, chúng hãy còn nhỏ đến thế cơ mà. Ở cái tuổi như vậy người ta cần làm những điều ngu ngốc như nghịch giun và lăn lê trên sàn nhà, nhổ hoa và đi tè lên nền đất trống, hay vui hơn một chút chúng có thể đánh những thằng bé cùng tuổi và túm tóc một vài đứa bé gái mà chúng thích. Đó mới là những công việc chính của một đứa sáu tuổi, không phải ngồi yên trên ghế trước mặt là tờ bài tập toán, hay tiếng anh, hay tiếng việt và chúng cầm bút trong tay chịu không hiểu thứ gì đang diễn ra trước mắt mình. Những con kiến nhỏ bò trên trang giấy, chúng không biến mất khi bọn trẻ nghiến nát bằng những ngón tay.

Nhưng thực sự thì, mọi thứ chỉ bắt đầu khi tôi lên cấp hai, sau đó là cấp ba. Tôi có thể nói trước điều này, tôi ít nhất trên dưới mười lần muốn đấm vào mặt một thầy cô giáo nào đó, ra khỏi lớp và đi làm ở trạm xăng. Xin mời, tôi là một tấm gương xấu cho bất kì ai muốn trở thành người tốt. Nhưng khoan, các vị có biết tôi không? Đấy, chưa gì đã lại chơi trò chơi theo một cách thiển cận rồi. Các vị cần phải tiếp xúc với gốc rễ của vấn đề, không thì cũng nên nghe cô ta trình bày về cuộc đời của cô ta theo trình tự, cho nó có lớp lang. Có cái này ở người lớn mà tôi thấy thật buồn cười, rằng tại sao các vị chẳng bao giờ nhận ra cần thay đổi. Các vị không bao giờ lắng nghe trọn vẹn con cái của mình. Ý tôi là, các vị nghe chúng nói, nhưng không bao giờ hiểu hết tất cả, các vị nghe đấy, nhưng không hiểu. Chúng đang nói gì đó và thậm chí chúng còn chưa kịp nói cho ngọn ngành là các vị đã bắt đầu phản bác lại trong đầu mình rồi, những ông bố bà mẹ tâm lí hơn một chút thì đợi con nói xong mới bắt đầu sắp xếp lại các lí luận phản bác. Các vị hầu như đều phản bác.

Quay lại với việc đi học của tôi. Cấp hai là một thiên đường của những điều phức tạp, nhưng nó hãy còn là một thiên đường. Tôi lên cấp ba sau khi kết thúc lớp chín. Từ trước khi thi bố mẹ tôi đã xác định được ngôi trường cần phải vào, làm gì để đạt được nó và tất nhiên là sự hợp tác từ tôi. Nhưng hình như mục đích của hai bên không giống nhau. Bố mẹ muốn tôi vào trường tốt, một phần tốt cho tôi, còn lại tốt cho họ. Đó là chuyện đương nhiên, bố mẹ nào chẳng muốn có gì đó để tự hào về con mình. Ai cũng thế, tất cả mọi người. Trong khi đó mục đích của tôi là vào cùng một trường với bạn bè mình, chưa kể đó là một trường tốt, được đánh giá cao và sau này tôi sẽ được trấn an bằng rất nhiều lời khen ngợi. Tôi đi học thêm trong tâm trạng phấn khởi, cứ vài bữa tôi cúp học một lần. Sau khi nhận kết quả đỗ, thực tình tôi không vui mừng cho lắm. Nó chỉ đến một cách hiển hiện và rõ ràng khi các cô dì chú bác họ hàng nội ngoại của tôi mừng tôi tiền, ít ra ngôi trường này đã được đóng một cái mác đặc biệt đến thế mà, cái mác của lòng dân. Đến đây tôi muốn nói, những đứa trẻ mười sáu tuổi chưa thể quyết định được cuộc đời của chúng đâu. Bố mẹ chúng đóng một vai trò cực kì quan trọng trong đời chúng, tác động vào chúng, ảnh hưởng lên chúng. Chúng đi đâu, làm gì, tuổi mười sáu không thể nào quyết định được. Chúng chưa đủ khôn ngoan, chưa đủ chín chắn, chúng để mặc mọi thứ và chúng không biết phải làm sao cho đúng. Khi đó, bố mẹ chúng dắt chúng đi. Bố mẹ tôi đã dắt tôi vào cấp ba, một thế giới mới nơi tôi ngày ngày tìm mọi cách trốn chạy.

Tôi ghét đi học. Tôi nhận ra điều này năm tôi học lớp mười một. Khi đó tôi đã sa sút hết mức và không thể tệ hơn được nữa. Mọi chuyện quay cuồng và chúng tôi quay cuồng theo. Tôi, gia đình tôi, mối quan hệ của tôi xuống dốc với mọi người, trường học đè lên tôi, đổ sập dưới chân tôi. Tôi biết được rằng tôi chưa bao giờ thích đi học. Có rất nhiều lựa chọn trong cuộc đời mỗi người. Đến một lúc nào đó các lựa chọn sẽ đến tay tôi. Khi đó tôi được quyền làm chủ cuộc đời mình. Có những lựa chọn sai lầm, có những lựa chọn đúng đắn, nhưng làm thế nào tôi biết được. Phải làm thử thôi, làm tất cả chúng, nghĩ ra là làm. Tôi không muốn uổng phí mọi giây phút trong đời mình kể từ khi tôi nhận ra phải trân trọng nó nhiều hơn. Cuộc đời chúng ta ngắn hơn chúng ta tưởng, đến một lúc nào đó không biết được, nó sẽ vụt khỏi tay và biến mất đi. Phí phạm từng ấy năm trong đời để làm những việc không thích, tôi coi đó là một tội ác, là một mối nguy hàng đầu cho xã hội bởi khi đó chúng ta không bao giờ biết được những kẻ đang chán nản và đầy tội lỗi ấy sẽ làm gì. Chúng sẽ làm gì ư? Đơn giản lắm, chúng sẽ phá bỏ mọi khuôn phép và vận hành thế giới nhỏ bé của chúng theo một cách riêng, những đứa trẻ hãy còn quá nhỏ và say mê những trò chơi dại. Có nhiều gia đình để con họ đi học, nhìn chúng học bài, làm bài tập, được điểm tốt, thế là sướng. Tôi không tán thành việc đó. Họ không ở bên con mình ngay từ khi mọi chuyện bắt đầu, khi con họ đột nhiên muốn buông xuôi và chúng mệt mỏi tới nỗi không muốn cố gắng nữa. Những đứa như vậy thường khép mình vào trong một cái vỏ kiên cố và vững vàng và chúng cố thủ trong đó không bao giờ ló ra. Tận sâu bên trong chúng tính toán những phương thức tàn bạo nhất cho cuộc sống của mình, có những đứa quyết định từ bỏ nó. Chúng chẳng làm gì cả, và từ bỏ nó.

Tôi chưa gặp những đứa trẻ cảm thấy chán nản với cuộc sống của mình. Tôi cần gì phải gặp. Bởi tôi là một minh chứng điển hình, đang hít thở và đang sống, tôi biết rõ cảm giác buồn chán bất lực đó như thế nào, tôi cũng biết những đứa trẻ như tôi đang phải đối mặt với mọi thứ ra sao. Tôi nghĩ mình biết. Có lẽ có rất nhiều những đứa trẻ như vậy, chúng không thấy hài lòng với cuộc sống hiện tại, khuôn khổ hiện tại và chúng muốn chạy thoát nhưng không thể. Khi chúng gây chuyện và bố mẹ chúng hỏi, tại sao con không tâm sự với chúng ta khi con bế tắc, trời ạ chúng phải trả lời thế nào đây? Bố mẹ, các vị đã không ở bên con các vị khi chúng cần, vậy thì đừng bao giờ đòi hỏi chúng phải kể cho các vị nghe hôm nay chúng thấy thế nào, chúng mệt ra sao và chúng muốn được nghỉ một buổi học ở trường. Chúng sẽ không bao giờ nói bởi ngay từ đầu chúng đã không được phép nói ra rồi. Con cái lớn lên bằng nỗi sợ. Nỗi sợ bị đánh, bị mắng, bị chửi rủa, có những đứa học cách sống chung với nó và ổn, có những đứa cũng học cách sống chung với nó và bị tổn thương. Những đứa ổn sẽ sống theo cách riêng của chúng và âm thầm không để ai biết, những đứa không ổn sẽ kiệt quệ từng ngày và kết quả chúng sẽ bỏ cuộc, rất sớm thôi. Số lượng trẻ vị thành niên tự sát không ít. Ta quy kết cho căn bệnh trầm cảm. Vậy nguyên nhân của căn bệnh trầm cảm là gì? Tôi nói, đó là những áp lực trong cuộc sống.

Thế giới này không tạo ra áp lực. Con người mới là kẻ làm điều đó. Tôi đã từng mơ đến một thế giới nơi chúng ta sống bình đẳng với nhau, được làm những điều chúng ta muốn, làm những thứ chúng ta thấy mình cần phải, nơi con người sống với nhau bằng lòng tốt và hòa bình, và những bậc người lớn hiểu con cái của họ hơn. Trong tôi có một phần luôn tin rằng tội ác của con người tất thảy đều bắt nguồn từ giáo dục. Những đứa trẻ sinh ra đều mang một lòng tốt nguyên thủy. Bố mẹ chúng là người điều chỉnh và định hình cho lòng tốt ấy. Giả sử có một đứa sinh ra với tố chất sát nhân trong đầu, bố mẹ chúng sẽ là người bật công tắc khởi động nó lên, hoặc họ sẽ tắt nó đi vĩnh viễn. Nhân cách một đứa trẻ không phụ thuộc vào những gì người ta dạy chúng ở trường, ở trường người ta không dạy chúng tình yêu. Người ta dạy chúng làm thế nào để nổi trội hơn đứa khác và công khai đứa nào dở hơn đứa nào hay hơn. Trường học tạo ra các tầng lớp, không đâu xa, chính là trường học. Không có tiền thì không được đến trường, không có kiến thức thì không được đến trường, không có nhân cách thì không được đến trường. Ai nói trường học là nơi đào tạo các chủ nhân tương lai của đất nước thì tôi sẽ cười vào mặt họ. Các chủ nhân tương lai của đất nước lúc này đang tán phét với nhau và làm bài tập trong nỗi hân hoan hơn người của chúng. Chúng không được dạy làm thế nào để đưa đất nước lên một tầm cao hơn, khiến người dân tự hào về nòi giống của mình hơn, chúng chỉ được dạy làm thế nào để kiếm được nhiều tiền nhất và xây được nhà to nhất. Chủ nhân tương lai của đất nước, tôi tin, là những đứa trẻ có những suy nghĩ nghiêm túc về việc này từ khi chúng nhận thức được mọi chuyện.

Khi tôi nói quan điểm của tôi với người khác, chúng tôi bắt đầu tranh cãi nhau. Họ: không đến trường thì làm sao có kiến thức? Tôi: nếu anh cần kiến thức tự anh sẽ tìm cách có được nó thôi. Họ: không đến trường thì làm sao vào làm cho các công ty lớn, làm sao có bằng đại học? Tôi: yên tâm đi, các công ty của anh sẽ cần đến anh nếu anh phù hợp, nếu anh yêu thích một công việc nào đó và dành nhiều thời gian cho nó, còn bằng đại học ư, anh cần nó để làm gì, để vào một công ty tư nhân lương bốn triệu một tháng và gặp được tình yêu của đời anh à? Họ: không có học vấn thì sẽ chẳng có gì hết. Tôi: anh có sức khỏe, anh có bộ não, cái cần nhất là liệu anh có khả năng học tập và không bị phụ thuộc hay không. Họ: vậy thì trước giờ đi học là một chuyện vô bổ chăng? Tôi: không, nó không vô bổ, nó chỉ mất thời gian và ngày càng sai hướng. Họ: vậy thì nói xem thế nào mới là đúng đây? Tôi: khi con anh nói với anh rằng nó thích đi học, và sáng nào nó cũng nói thế, khi đó trường học mới là nơi đúng đắn cho con anh. Đã bao giờ nó khẳng định với anh thế chưa, rằng nó thích đi học ấy? Họ: thật là thiếu suy nghĩ, không đi học thì cô sẽ sống bằng gì đây? Khả năng nói phét à? Tôi: sống bằng niềm đam mê của tôi. Tôi làm công việc mình thích, tôi làm chủ đời mình, còn anh, anh có hài lòng với cuộc sống hiện tại không, hay vì anh đang phải làm một công việc tẻ ngắt nên anh luôn muốn có rất nhiều thứ trong đời? Tôi nói anh nghe điều này, một tấm bằng không nói lên giá trị của anh, bởi ai cũng có bằng, hiểu không? Nếu anh bất tài, với một tấm bằng anh sẽ đủ nuôi sống mình theo cách tằn tiện nhất, nhưng anh có tài và không có cái bằng nào cả, anh sẽ sống bằng sự ngưỡng vọng của người khác và chính sức lực của mình. Tùy thuộc vào anh. Họ: vậy tôi phải làm gì đây? Tôi: nằm xuống, nghĩ xem tiếp theo anh muốn làm gì. Đừng hỏi tôi.

Có người sẽ nói, chạy theo ham muốn là con đường nhanh nhất để xuống dốc. Tôi trả lời, chạy theo những ham muốn của anh và duy trì nó, anh sẽ được lên thiên đường. Cái khó trong việc làm theo mong muốn của bản thân là không bao giờ tin vào những mong muốn ấy. Các vị luôn đắn đo và quá quan tâm đến suy nghĩ của người khác. Chính vì thế, các vị luôn thất bại theo ý họ.

Tôi không thích đi học. Bởi trường học không đem lại cho tôi cái gì, ít ra là những cái người khác tin là họ nhận được. Tôi không có niềm vui, không có đam mê, tất cả là nghĩa vụ, là một áp lực. Và tôi biết tôi không phải người duy nhất. Đã đến lúc những đứa trẻ được nói rồi.

Nguồn : http://www.gocnhinalan.com/bai-cua-khach/trn-tr-ca-mt-li-bing.html

Có 2 phản hồi tại sự trăn trở của một kẻ lười biếng

  1. thuan nói:

    Bạn này nói rất đúng về giáo dục việt nam , ko những thế nó còn có thể đúng trên 1 số nước khác nữa . Tôi ấn tượng nhất câu ” điểm số chỉ thể hiện năng lực ghi nhớ những cái đã được học mà không nói lên được những năng lực khác thật sự ”. Tôi nay đã đi làm nhưng thật sự kiến thức cấp 3 của 1 số môn đã quên hết vì chẳng bao giờ dùng tới cả coi như học xong cấp 3 chẳng để làm j . Giá như cấp 3 tôi đc đăng kí học những môn mình thích và ko phải thi học kỳ để lên lớp thì tốt quá . Biết rằng là học sinh thì phải có cố gắng nhưng cố gắng để làm j khi học mà ko dùng đến rồi lại quên sau khi thi xong ? Và nếu tôi đam mê học môn nào đó thì ko cần nói tôi cũng sẽ cố gắng để học lên ko cần ai ép buộc cả . Giờ dạy lại bọn trẻ con học bài thì coi như tôi cũng lên mạng học lại luôn . Ra ngoài đời làm việc mới thấy rằng chỉ dựa vào điểm số là 1 sai lầm nhưng ở VN hiện giờ bằng cấp lại quá quan trọng…

    • bạn Thu An mến. mình thì nghĩ có thể đào tạo trọng tâm một số môn theo nhu cầu và sở thích của hs. các môn còn lại vẫn phải học nhưng mục đích cung cấp chứ không phải là nhồi nhét kiến thức. muốn hs nạp được các kiến thức đó thì phải chọn lọc nội dung cần thiết mang tính căn bản và phương pháp phải linh hoạt hấp dẫn. nhưng quan trọng nhất việc dạy học không thể một chiều, phải đảm bảo phát huy khả năng tư duy sáng tạo tự do của hs và tránh áp đặt theo quan điểm chính trị. mình mới chỉ đọc lướt bài này thấy hay thì đưa lên chứ chưa có thời gian đọc lại để suy nghĩ kỹ hơn. đây là chủ đề mình rất quan tâm nên xin vội góp với bạn Thu An vài lời dông dài. nhớ lại những gì mình học trước đây và những thứ bọn trẻ đang học ngày nay mà thấy quá nhiều thứ lạc lẽo vô duyên.

%d bloggers like this: